Cố Nghệ nhân La Thị Cẩm Vân
Nội dung
I. Tiểu sử:
1. Tên khai sinh: La Thị Cẩm Vân (La Thị Huê).
2. Nghệ danh: La Cẩm Vân.
3. Sinh năm: 1952. Mất năm 2014.
4. Quê quán: Làng Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
5. Địa chỉ thường trú: 14 Ngô Gia Tự, thành phố Huế.
6. Nghề nghiệp: Diễn viên Múa hát Cung đình và Tuồng Huế.
7. Thế hệ nghệ nhân: Thế hệ thứ năm.
8. Quá trình hoạt động nghệ thuật:
Năm 1961 - 1963: Bắt đầu học tuồng và múa hát cung đình.
Năm 1963 - 1975: Trở thành diễn viên chính thức của Đoàn Ba Vũ.
Năm 1975 - 1976: Chỉnh sửa một số điệu múa cung đình Huế.
Năm 1976 - 1987: Viết đề án xây dựng lại nghệ thuật tuồng và múa hát cung đình Huế.
Năm 1987 - 2006: Trưởng Đoàn Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế.
Năm 2006 - 2007: Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế.
9. Các nước và tỉnh thành đã từng tham gia lưu diễn:
Trong nước:
Thành phố Hồ Chí Minh, Long Khánh, Khánh Hòa, Qui Nhơn, Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, Hà Nội.
Nước ngoài:
Năm 1970: Osaka (Nhật Bản).
Năm 1978: Savanakhet (Lào).
Năm 1993: Tokyo (Nhật Bản).
Năm 1998: Fukuoka (Nhật Bản) và Paris (Pháp).
Năm 2002: Moscow (Nga).
Năm 2006: Rianmarit (Tây Ban Nha).
Năm 2007: Paris (Pháp) và một số thành phố của Bỉ, Thụy Sĩ.
II. Đặc điểm:
1. Loại hình nghệ thuật đã được học: Tuồng, múa cung đình, nhạc và ca Huế.
2. Năm bắt đầu học: 1961 (9 tuổi).
3. Người dạy:
- Tuồng & múa: Đội Duy (Nguyễn Hữu Duy), Hồ Thị Huệ, Nguyễn Đình Am, Dương Hòa, Phan Hữu Lễ, Trần Xuân Dục.
- Hát & nhạc: Đinh Hữu Khai, Nguyễn Ngọc Phụng, Nguyễn Ngọc Cọng, Ngô Lư, Hồ Hữu Khánh, Nguyễn Hữu Ba, Trần Kích.
- Ca Huế: Minh Mẫn, Thanh Hương, Quế Trân, Vân Phi.
4. Địa điểm học: Tả Vu (Đại Nội) – nơi Đoàn Ba Vũ tập tuồng và múa hát Cung đình.
5. Người đồng học: Lâm Thị Trà Liên, Trần Thị Loan, Nguyễn Cửu Thị Thủy, Lê Thị Trang.
6. Người đồng diễn: Viên Bờ, Cẩm Tú, Thanh Tâm, Dương Thị Liên, La Nguyên, La Đăng.
7. Nắm giữ bí quyết nghề nghiệp:
- Nắm giữ đầy đủ 16 bài bản múa “Tam quốc – Tây du” gồm: Phong đề, Vụ lạc, Yên lung, Thị hồ huỳnh cân, Thị hồ vu thiên, Thị hồ thiên thương, Thị hồ hán xương, Đái mã đáo, Vãng tây thủ, Nhất đồ chỉ, Chỉ thiên trúc, Đàn đàn và 4 bài hát khách.
8. Thể hiện các bài bản:
- 15 điệu múa cung đình: Bát dật (văn, võ), Lục cúng Hoa đăng, Lục triệt Hoa mã đăng, múa Kiếm, Vũ phiến, Tam quốc – Tây du, Lân mẫu xuất Lân nhi, Trình tường Tập khánh, song Quang, Bát tiên Hiến thọ, song Phụng, Long hổ Hội, độc Long, múa chèo lễ đại đàn.
- Vai tuồng: Phương Cơ qua ải (Ngọn lửa Hồng Sơn), Trại Ba níu áo (Tống Địch Thanh), Cúc Hoa, Tấn Lực (Phạm Công - Cúc Hoa), Trưng Trắc (Trưng Trắc đề cờ), Tam Bành (Trương Ngáo đúc chuông).
- 1975 – 2014: Chỉnh sửa, dàn dựng múa Kiếm, Vũ phiến, Lục cúng Hoa đăng, Lân mẫu xuất Lân nhi, Phụng vũ.
9. Giai thoại và kỷ niệm khi hành nghề:
“…Khoảng 9 tuổi, lần đầu lên sân khấu vì sợ quá nên bật khóc, nhưng khán giả lại vỗ tay vì cho rằng diễn rất đạt. Đó là bài học đầu tiên trong nghề…”
10. Truyền thống nghề nghiệp của gia đình: Gia đình có truyền thống nghệ thuật nhiều đời, các anh chị em đều theo nghề tuồng và múa cung đình.
11. Thế hệ kế tục: Không.
12. Đóng góp cho công tác truyền dạy:
Năm 1977: Dạy lớp đầu tiên và viết giáo trình tuồng, múa cung đình cho Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Thừa Thiên Huế.
Tham gia giảng dạy nhiều lớp Trung cấp và Cao đẳng nghệ thuật.
13. Danh hiệu và giải thưởng được trao tặng:
1976: Giải diễn viên trẻ xuất sắc miền Trung.
1985: Huy chương Vàng Hội diễn Múa toàn quốc.
1992: Giải Nhất biên đạo múa toàn quốc.
1993: Nghệ sĩ Ưu tú.
2000: Bằng khen của Thủ tướng.
2005: Giải A kịch bản “Sóng ngầm trong phủ chúa”.
2005: Được vinh danh tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.