Quay lại

Tư liệu bài bản nhã nhạc

Tên bài bản:
Bông
Ý nghĩa
Bài Bông thường không được sử dụng độc lập mà là một phần trong nhóm 5 bài kèn: Đăng đàn kép, Xàng xê, Bông, Mã vũ, Mang hoặc nhóm 3 bài: Bông, Mã vũ, Mang. Bài mang tính nghiêm trang, được sử dụng trong các nghi lễ lớn như: lễ Bạt độ, lễ Chánh tế, và lễ Truy tiến hương linh. Nội dung của bài thường để tưởng nhớ công ơn gây dựng của các bậc tiền nhân.
Mô tả trình diễn
Nhạc cụ: Trống, Kèn là 2 nhạc cụ chính của tất cả các bài bản Đại nhạc. Ngoài ra dàn Đại nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Xập xõa, Bồng..., nhạc cụ bộ gõ này cũng được dùng cho dàn tiểu nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp. • Nghệ nhân: - Kèn lỡ: Nguyễn Hữu Phước. Hồ Ái. - Trống chiến: Nguyễn Đình Vân. Hồ Viết Định - Bài kèn: Bông được thể hiện với một đoạn dạo nhạc theo nhịp, mỗi nhịp ứng với một tiếng gõ mõ ngay đầu phách của nhịp. Ngày nay, đoạn nhạc dạo này thông thường là 28 nhịp ¼, sau đó theo lệnh của Trống để chuyển vào bài. Ngày xưa đoạn nhạc dạo của 2 bài Bông và Phú lục tương tự nhau nhưng tính chất lại khác nhau. Bài Phú lục lúc lên cao thì chú trọng vào chữ Cống (nốt Mi 2), còn câu dạo của bài Bông lúc lên cao chú trọng ngân dài chữ Xê (nốt Rê 2). Về cơ bản, phần bài bản chính của bài Bông có 55 nhịp C. - Bài Trống: Trong 5 nhịp đầu là phần thủ Trống. Đến nhịp 27 và 28 với các roi Cà-Rang Cắc Tang gây xáo động là điểm mốc để báo hiệu nhạc công Kèn chuẩn bị vào bài. Phần bài bản chính của Trống có 54 nhịp. Sau Thủ trống có 10 câu trống khác. Chúng chỉ khác nhau ở số nhịp của mỗi câu và số lượng roi Cà-Rụp trong câu. Phần còn lại thì hơi tương tự nhau chỉ khác một vài điểm nhỏ.
Lời nhạc
Tất cả các bài bản Đại Nhạc không có lời hát.

Trợ lý Tuồng Huế

Đang hoạt động