Quay lại

Tư liệu bài bản nhã nhạc

Tên bài bản:
Long ngâm
Ý nghĩa
Ngày xưa, Long ngâm được phối hợp sử dụng trong 5 bài để diễn tấu trong giai đoạn niêm hương của đại lễ Tế Nam Giao, lễ Trai đàn chẩn tế. Ngoài ra, nó còn được dùng độc lập trong các buổi lễ tiếp sứ thần ngoại giao, lễ Đại triều, lễ Thường triều, yến tiệc và múa cung đình. Từ năm 1994 trở về trước, các nghệ nhân lão thành thường chỉ hòa tấu 3 bài Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ và Long ngâm (thay vì 5 bài) nhằm mục đích phục vụ công việc trong các đại lễ (do ban nhạc lễ không có đủ số lượng nhạc công thuộc bài Long đăng và Tiểu khúc để cùng thực hiện). Ngày nay, 5 bài bản này được dùng trong lễ Niêm hương của đại lễ Chẩn tế và Bạt độ giải oan. Long ngâm còn được sử dụng độc lập trong việc Niêm hương của các lễ tế tự, kỵ giỗ và cũng là bài bản dùng để đệm cho làn điệu ca Huế.
Mô tả trình diễn
Nhạc cụ: Dàn Tiểu nhạc gồm một số nhạc cụ sau: Tam (3 dây), Tỳ, Nhị, Nguyệt, Sáo. Ngoài ra, dàn Tiểu nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Phách một, Bồng, Tam âm, Trống bản..., trong bộ gõ này có một số nhạc cụ dùng cho cả dàn Đại nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp. • Nghệ nhân: - Đàn Tam: Dương Phúc Long. - Đàn Nhị: Trần Thảo, Nguyễn Tấn Hồng. - Sáo Trúc: Nguyễn Quang Vịnh, Trương Cảnh Hùng. • Bài Long ngâm được thể hiện bởi 2 nghệ sỹ Dương Phúc Long (đàn Tam), Nguyễn Quang Vịnh (sáo Trúc) và 3 nghệ nhân Trương Cảnh Hùng (sáo Trúc), Trần Thảo (đàn Nhị), Nguyễn Tấn Hồng (đàn Nhị). Qua phân tích từng bài, chúng tôi thấy có những vấn đề như sau: a. Nghệ sĩ Dương Phúc Long thể hiện bài Long ngâm gồm 48 nhịp C (không kể nhịp lấy đà). Giai điệu bài bản đủ nhịp và bám sát sườn bài xưa. Đây là cách thể hiện bài bản dùng hòa tấu hoặc đệm cho lời ca trong ca Huế. Nếu là bài bản sử dụng trong nhạc lễ thì phải bỏ 4 nhịp đầu và chỉ diễn tấu từ nhịp thứ 5 trở đi, lúc đó bài sẽ được gọi là bài Xây tá (là bài Long ngâm diễn tấu theo kiểu nhạc lễ Cung đình). So với sườn gốc bài xưa thì đường nét giai điệu của bài này có một vài điểm nhỏ chưa thích hợp. - Các chữ nhạc ở nhịp 24 trên là theo bài gốc xưa. Đường nét giai điệu nghệ nhân thể hiện ở nhịp 26 (và cả nhịp 33 nữa) không phù hợp với tính năng đàn Tam vì nó là nét nhạc được nghệ nhân thời trước sáng tạo theo đúng tính năng của bài đàn Tỳ. Chi phách yếu của phách 1 nhịp 26 nên dùng chữ Liu (nốt Sol 1 móc đơn) là thích hợp nhất (tham khảo thêm ở nhịp 34). - Theo sườn bài xưa, hai chữ nhạc ở phách 4 nhịp 44 là xừ Xàng (tương ứng hai nốt móc đơn La 1 và Do 2). Hai chữ nhạc xư xừ (tương ứng hai nốt móc đơn Si1 và La 1) nghệ nhân dùng trong bài là mượn của đàn Tỳ bà, đem lại hiệu quả chưa tốt vì không phù hợp với tính năng đàn Tam (xem lại vấn đề về nhịp 25 ở trên). b. Nghệ sĩ Nguyễn Quang Vịnh thể hiện bài Long ngâm gồm 48 nhịp C (không kể nhịp lấy đà). Nghệ sĩ thể hiện cách vào bài theo kiểu hòa tấu hoặc đệm cho lời ca trong ca Huế, nhưng giai điệu lại thể hiện theo kiểu bài bản của nhạc lễ (xem các mô-típ có thể hiện kỹ thuật rung lưỡi, Frullato, ký hiệu là R). Nếu là bài bản sử dụng trong nhạc lễ thì phải bỏ 4 nhịp đầu và chỉ diễn tấu từ nhịp thứ 5 trở đi, lúc đó gọi là bài Xây tá (là bài Long ngâm diễn tấu theo kiểu nhạc lễ Cung đình). So với sườn gốc bài xưa thì đường nét giai điệu của bài này có những điểm chưa thích hợp như sau: - Trong bài, các chữ nhạc nghệ sỹ đã dùng ở nhịp 10 là mượn của đàn Nhị. Vì vậy cần chỉnh lại các chữ nhạc ở đó theo đúng sườn bài xưa như sau: Nhìn chung, giai điệu bài bản do nghệ sĩ Nguyễn Quang Vịnh thể hiện vẫn đủ nhịp và bám sát sườn bài xưa, nhưng cần phải chỉnh lại một số chữ nhạc như đã trình bày ở trên. c. Nghệ nhân Trương Cảnh Hùng thể hiện bài Xây tá (là bài Long ngâm diễn tấu theo kiểu nhạc lễ Cung đình) gồm 75 nhịp C. Giai điệu của bài được nghệ nhân lặp lại 2 lần, nhưng lần nào cũng bị thiếu 8 nhịp: - Lần 1 (Từ nhịp 1 đến phách 2 của nhịp 37): Sau nhịp 22 giai điệu bài bản bị thiếu 8 nhịp. Nội dung các nhịp bị thiếu tương tự như giai điệu trong các nhịp từ nhịp 27 đến nhịp 34 ở bài của nghệ sĩ Nguyễn Quang Vịnh: Ngoài ra, cũng có lúc nghệ nhân dùng ngôn ngữ của các loại đàn khác hoặc nét nhạc ca Huế thay cho ngôn ngữ của Sáo trúc. Phân tích cụ thể các nhược điểm sai sót đó trong bài bản do nghệ nhân diễn tấu như sau: - Các chữ nhạc ở hai phách cuối nhịp 7 là mượn của đàn Tam. Vì vậy cần chỉnh lại các chữ nhạc ở đó theo đúng sườn bài xưa như sau: d. Nghệ nhân Trần Thảo thể hiện bài Long ngâm bằng đàn Nhị gồm 93 nhịp C. Nhìn tổng quát, giai điệu bài bản được thể hiện lặp lại 2 lần: + Lần 1 gồm 48 nhịp (Từ phách 3 nhịp 1 đến phách 2 của nhịp 49): Nghệ nhân vào bài theo kiểu hòa tấu hoặc đệm cho lời ca trong ca Huế. + Lần 2 gồm 44 nhịp (Từ phách 3 nhịp 49 đến nhịp nhịp 93): Phân tích cụ thể các ưu khuyết điểm trong bài bản do nghệ nhân diễn tấu như sau: - Theo sườn bài xưa, hai chữ nhạc ở phách 3 hai nhịp 21 và 65 là Lịu Xàng (tương ứng hai nốt móc đơn Sol 1 và Do 2). Hai chữ nhạc xư Xàng (tương ứng hai nốt móc đơn La 1 và Do 2 ) nghệ nhân dùng trong bài là chưa đúng, cần chỉnh sửa lại, cụ thể như sau: Để nắm vững và thể hiện được bè đàn Nhị ghi trên (có hai nhịp 90 và 91) phải là nghệ nhân có trình độ “rộng”, luôn đòi hỏi sự tinh tế trong vấn đề thể hiện bài bản, thẩm âm và nhất là đã hành nghề lâu năm (trên 30 năm): Hai chữ nhạc ở phách 1 nhịp 90 được dùng để “làm chậm lại” sự xuất hiện của chữ Công (nốt Mi 1, theo sườn bài phải ở trên phách 1 của nhịp) đồng thời góp phần tạo chuyển động nhẹ nhàng ổn định cho bè nhạc. Các chữ nhạc còn lại làm cho đường nét giai điệu bè đàn Nhị uyển chuyển hơn và tránh được việc phải dùng chữ Phàn (nốt Fa 2 đảo phách ) ở giữa nhịp 91 như một số nhạc công khác đã thể hiện. Tóm lại, giai điệu bài Long ngâm đàn Nhị do nghệ nhân Trần Thảo thể hiện (lặp lại hai lần) là đủ nhịp, bám sát sườn bài xưa, đầy đủ các biến tấu và rất có giá trị. Tuy vậy, để giai điệu bài bản đúng với tính chất xưa, trước khi sử dụng chúng ta cũng cần phải chỉnh lại một số chữ nhạc như đã trình bày ở trên . đ. Nghệ nhân Nguyễn Tấn Hồng thể hiện bài Xây tá (là bài Long ngâm diễn tấu theo kiểu nhạc lễ Cung đình) gồm 89 nhịp C. Giai điệu của bài được nghệ nhân diễn tấu lặp lại 2 lần, cụ thể như sau: - Thoạt nhìn có thể cho rằng bài Long ngâm đàn Nhị do nghệ nhân Nguyễn Tấn Hồng diễn tấu là bình thường như các nghệ nhân khác diễn tấu, không có giá trị đặc biệt. Ban đầu, chính chúng tôi cũng đã có nhận xét tương tự khi trực tiếp ký âm và đọc lại nội dung bài bản. Nhưng sau nhiều lần đọc, chúng tôi nhận ra rằng giai điệu bài Long ngâm này hầu như có rất ít giá trị đối với “ngôn ngữ” đàn Nhị mà lại là vô giá đối với Sáo trúc. Đây là bài nhạc cổ mà các nghệ nhân xưa (thuộc đoàn Ba Vũ - Đại Nội) dùng để dạy cho nhạc sinh học nghề đàn Nhị. Tuy là đàn Nhị nhưng đường nét giai điệu của bài bản lại bao hàm cả giai điệu đặc trưng của Sáo trúc. Giá trị thật của bài bản này là với nó, chúng ta có thể phục chế nguyên xi toàn bộ bài Long ngâm dành cho Sáo trúc mà các nghệ nhân xưa đã sáng tạo. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, hãy tham khảo hai bài Long ngâm sáo trúc do nghệ nhân Trương Cảnh Hùng và một số nghệ sỹ khác thể hiện. Nhìn chung, bài bản Long ngâm thể hiện bởi các nghệ nhân, nghệ sĩ nói trên là đủ nhịp (ngoại trừ bài Sáo trúc do nghệ nhân Trương Cảnh Hùng diễn tấu), giai điệu các bài đều bám sát sườn bài xưa. Nhưng xét về nội dung thì bài bản đàn Nhị của nghệ nhân Trần Thảo đạt chất lượng hơn bài của nghệ Nguyễn Tấn Hồng. Tuy vậy, chúng ta cần chú ý các điểm mấu chốt đã được trình bày để chỉnh sửa thay đổi làm cho nội dung những bài bản này được hoàn chỉnh hơn khi muốn sử dụng chúng. Từ đó, theo quan điểm của chúng tôi, nên chọn 3 bài sau để làm bài bản mẫu trong thời điểm hiện tại: - Bài Long ngâm thể hiện bằng đàn Tam của nghệ sĩ Dương Phúc Long. - Bài Long ngâm thể hiện bằng Sáo trúc của nghệ sĩ Nguyễn Quang Vịnh. - Bài Long ngâm thể hiện bằng đàn Nhị của nghệ nhân Trần Thảo. Về bài Long ngâm thể hiện bằng đàn Nhị của nghệ nhân Nguyễn Tấn Hồng chúng ta có thể dùng tham khảo để tìm hiểu về một số chữ nhạc cổ dành cho Sáo đã từng được ban nhạc Cung đình Đại Nội xưa sử dụng.
Lời nhạc
Trong 17 bài Tiểu nhạc thì một số bài có chức năng kép. Có nghĩa là, khi hòa tấu nó là bài bản Tiểu nhạc, khi biểu diễn Ca Huế thính phòng thì nhạc công dùng bài này đệm cho ca sĩ hát. Long ngâm là bài bản còn được dùng đệm cho Ca Huế.

Trợ lý Tuồng Huế

Đang hoạt động